So sánh sản phẩm
chọn tối đa 4 sản phẩm

Ứng dụng kho ngữ liệu ngôn ngữ trung gian tiếng Hán

Ngày đăng:08:48:24 18-05-2016

Ứng dụng kho ngữ liệu ngôn ngữ trung gian tiếng Hán

Kho ngữ liệu ngôn ngữ trung gian tiếng Hán được ứng dụng vào các nghiên cứu ở các lĩnh vực sau: Nghiên cứu về quá trình thụ đắc cú/ngữ pháp tiếng Hán, chữ Hán, từ vựng, v.v…

1 Nghiên cứu về việc thụ đắc ngữ pháp tiếng Hán

Nghiên cứu về quá trình thụ đắc câu, cú pháp, ngữ pháp được nghiên cứu khá nhiều như nghiên cứu về các thành phần trong câu (định ngữ, bổ ngữ, chủ ngữ, tân ngữ v.v…). Bên cạnh đó còn có những nghiên cứu về một số câu đặc biệt như câu so sánh chữ “Bi” (比), câu chữ “Bang” (帮) [1], cụm kết cấu “Lian…dou” (连……都……)[2], câu có bổ ngữ xu hướng “Shang” (上)[3], bổ ngữ trình độ, bổ ngữ tình thái “De” (得)…

Trong đó có các nghiên cứu về câu chữ “比”  của Lục Nhất Bình, Đới Tất Tâm, Lí Tang và Đặng Vân Hà. Lục Nhất Bình đã phân tích lỗi câu chữ “比”  dựa trên nguồn ngữ liệu của kho ngữ liệu viết cao cấp HSK[4]. Lưu Nhất Bình đã tổng kết lỗi câu chữ “比”  của học sinh nước ngoài dựa vào nguồn ngữ liệu và thông qua phân tích, tổng hợp, phán đoán ngữ liệu. Những lỗi chính mà lưu học sinh khi sử dụng câu chữ “比”   bao gồm: dùng sai, bỏ sót, thừa, sai về hình thức phủ định, trật tự từ và kết hợp từ v.v… Cũng vẫn bàn về câu chữ “比” còn có Đới Tất Tâm[5]. Đới Tất Tâm thông qua khảo sát hình thức phủ định của câu chữ “比” phát hiện lỗi hình thức phủ định câu chữ “比”   là hiện tượng sai mang tính quy luật của tất cả lưu học sinh nói chung. Lí Tang phân tích nguyên nhân lỗi câu chữ “比” của học sinh người Hàn Quốc, còn Đặng Vân Hà nghiên cứu các loại hình sai câu chữ “比” của lưu học sinh nước ngoài.

Trong nghiên cứu về câu chữ “帮” , dựa vào nguồn ngữ liệu kho ngữ liệu viết cao cấp HSK, Quách Thử  Luân phát hiện, câu chữ “帮” thường được dùng trong kết cấu sau “NP1+帮+NP2+VP2”, đôi khi còn được dùng trong “NP1+帮+NP2”, còn trong kết cấu “NP1+帮+VP2” và “NP1+帮” ít được sử dụng. Trong câu chữ “帮”, lỗi thường được biểu hiện ở việc dùng sai VP2, hoặc đôi khi là thừa chữ “的”  giữa NP2 và VP2 hoặc không dùng câu chữ “帮”  khi cần thiết.

Trong nghiên cứu về câu có bổ ngữ xu hướng “Shang” (上), Lưu Hán Vũ đã dựa vào ngữ liệu kho ngữ liệu trung gian phân tích cách dùng của bổ ngữ xu hướng có chứa “Shang” và kết cấu tương đương trong tiếng Việt, cũng như tiến hành khảo sát lỗi của học sinh Việt Nam khi học kết cấu bổ ngữ xu hướng này.

Lưu Khánh Hồng sau khi tiến hành nghiên cứu kết cấu “连 XP 都 VP” và “连 XP 也 VP” đã chỉ rõ, đây là hai kết cấu đồng nghĩa nhấn mạnh tính chủ quan trong tiếng Hán, chỉ một sự vật hoặc trạng thái đã xảy ra trong một trạng thái không có khả năng xảy ra nhất. Hai kết cấu này khác nhau ở điểm “连 XP 都 VP” có ngữ khí nhấn mạnh cao hơn rất nhiều so với kết cấu kia.

Trương Dĩnh trong bài viết “Nghiên cứu quá trình thụ đắc bổ ngữ trình độ của học sinh nước ngoài dựa trên kho ngữ liệu viết cao cấp HSK” đã chỉ ra[6]: Trong 19 từ có thể làm bổ ngữ trình độ ra, “多” , “很”, 极“” có tần số sử dụng cao nhất, trước bổ ngữ thường sử dụng hình dung từ và động từ, trong đó sử dụng hình dung từ nhiều nhất. Loại hình lỗi của học sinh nước ngoài khi sử bổ ngữ trình độ là thuật ngữ sử dụng trước bổ ngữ không đúng, lỗi về kết cấu, lỗi về ngữ nghĩa và ngữ dụng. Trong đó nguyên nhân dẫn đến lỗi sai này là do thiếu hiểu biết về tri thức tiếng Hán hoặc do quá trình giảng dạy có vấn đề. Cũng nghiên cứu về bổ ngữ chỉ trình độ, Vương Tùng tiến hành khảo sát so sánh việc sử dụng câu bổ ngữ trình độ của học sinh nước ngoài và người bản ngữ[7]. Kết quả nghiên cứu cho thấy, lưu học sinh nước ngoài có xu hướng sử dụng bổ ngữ trình độ ít hơn người bản ngữ, tỉ lệ sử dụng chỉ bằng ¼ người bản ngữ.

Cũng nghiên cứu về bổ ngữ, nhưng Phan Y Đình, Trần Hạo Nhiên lại tiến hành khảo sát lỗi của học sinh nước ngoài khi học bổ ngữ tình thái[8]. Bài viết đã chỉ ra sự khác nhau trong việc sử dụng câu chữ “得” trong bổ ngữ tình thái giữa Trung Quốc đại lục và Đài Loan. Ở Đài Loan, lỗi chủ yếu dùng sai chữ “得”  (chiếm tới 70% tổng lỗi sai).

2. Nghiên cứu về việc thụ đắc chữ Hán và từ vựng tiếng Hán

Nghiên cứu về việc thụ đắc từ vựng và chữ Hán của học sinh nước ngoài dựa vào ngữ liệu kho ngữ liệu có Trần Hạo Nhiên, Lưu Vinh, Tô Hướng Lệ, Dị Duy, Quách Thánh Lâm[9], Lí Tiểu Lực[10], Lưu Vận Đồng[11], Trương Lệ Nhã[12], Tạ Diệu Linh, v.v…

Trần Hạo Nhiên trong bài viết của mình đã chỉ rõ, khả năng kết hợp các từ có vai trò rất quan trọng trong việc học ngoại ngữ. Học sinh nước ngoài khi sử dụng các từ kết hợp với nhau đã có một số lỗi tiêu biểu như sau: Có xu hướng sử dụng  động từ đơn âm tiết, lỗi kết hợp động từ và danh từ, lỗi sử dụng động từ cận nghĩa.  Để hạn chế những lỗi sai này, giáo viên và học sinh phải sử dụng sổ tay kết hợp từ hoặc từ điển hướng dẫn sử dụng từ, cũng có thể dùng từ điển trực tuyến để tra cách phối hợp các từ với nhau[13].

Lưu Vinh tập trung vào miêu tả lỗi của học sinh Việt Nam khi sử dụng hình dung từ tiếng Hán. Kết quả cho thấy, nguyên nhân lỗi chủ yếu đến từ chuyển di tiêu cực tiêng mẹ đẻ, ảnh hưởng phương pháp giảng dạy của giáo viên và bản thân hình dung từ là điểm khó học đối với học sinh Việt Nam. Trên cơ sở những lỗi sai đó, tác giả đề cập đến một số phương pháp khắc phục[14].

Tô Hướng Lệ chọn hình dung từ “大” để tiến hành khảo sát trong bài viết của mình. Với đối tượng là học sinh người Hàn Quốc, kết quả phát hiện lỗi sử dụng hình dung từ “大”  của học sinh Hàn Quốc chủ yếu là sự chuyển di tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ[15].

Dị Duy trong bài viết khu biệt hai từ “涉及” và “关系到” cho rằng, muốn phân biệt được cách dùng của hai từ này thì phải dựa trên cơ sở của kho ngữ liệu tiếng mẹ đẻ và kho ngữ liệu người học, tiến hành miêu tả tỉ mỉ ở cả 3 góc độ ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng. Có như vậy mới có thể đạt đến sự thống nhất mang tính khoa học, tính đối tượng và tính thực dụng. Trên cơ sở so sánh hai từ này, tác giả còn đưa ra một số kiến nghị phân biệt từ vựng trong từ điển[16].

Tạ Diệu Linh khi khảo sát từ “每” đã phát hiện, học sinh nước ngoài thường nhầm lẫn trong việc sử dụng từ “每” và “都” , trong đó biểu hiện rõ nét nhất là thiếu từ “都” khi dùng với động từ tình thái hoặc từ tình thái. Và hiện tượng mắc lỗi này sẽ giảm dần cùng với thời gian học của người học[17].

Bên cạnh những bài viết về thực từ trên, còn có những bài viết đề cập đến hư từ trong tiếng Hán, như bài viết về phân tích lỗi trật tự từ của giới từ tiếng Hán[18], ý nghĩa và cách dùng của phó từ ngữ khí “偏” và “偏偏”[19], hoặc phân tích lỗi khi dùng liên từ “还是”[20], v.v…

 

 


[1] 郭曙纶.基于“HSK动态作文语料库”的“帮”字句研究.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[2] 朱庆洪.同义结构“连XP都VP”与“连XP也VP”及其习得研究. 第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[3] 刘汉武.基于越南学生汉语中介语语料库的“上”组趋向补语习得研究.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[4] 陆一平.留学生“比”字句偏误类型的分析与习得研究.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[5] 戴悉心.汉语中介语研究的目的与方法——从留学生“比”字句否定形式的偏误说起.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[6] 张颖.基于《HSK动态作文语料库》的外国人汉语程度补语习得研究.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[7] 王松.基于语料库的外国学生程度补语句使用情况考察.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[8] 潘依婷、陈浩然.以台湾地区学习者语料库进行“得”字情态补语句之偏误分析.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[9] 郭圣林.基于HSK动态作文语料库的外国学生成语语义偏误分析.首届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[10] 黎小力.基于HSK动态作文语料库的符合趋向动词偏误分析.首届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[11]刘运同.关联词语“特别是”使用偏误分析.首届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[12]张丽雅.从外国学生“以”字偏误看“以”、“用”的异同.首届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[13]陈浩然.借由汉语学习者语料库分析常见动名词搭配错误.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[14] 刘荣.越南留学生形容词使用偏误分析及教学对策——以肖像描写写作教学为例.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[15] 苏向丽.基于国别化语料库的“大”的易混淆词的混用表现及成因分析.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[16] 易维.基于语料库的词汇辨析研究——以“涉及”和“关系到”为例.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[17] 谢妙玲.汉语“每”的二语习得研究——以中介语语料库为基础.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[18] 周文华.基于语序类型的汉语介词语序偏误分析.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[19]童小娥.从中介语反观语气副词“偏”“偏偏”的意义和用法.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

[20] 孙慧莉.基于中介语作文语料库的连词“还是”偏误分析.第二届汉语中介语语料库建设与应用国际学术讨论会论文选集,2013

Tags:
Tin cùng danh mục
Tin liên quan